Ngôi sao phương Đông

By on Tháng Tám 2, 2014 Lượt xem 1 017

 

“Đông, cậu sẽ không chết đâu. Bởi Thiên Đường không có chỗ cho những người đang yêu!”

 

1.                 Đông

 

Ngày đầu tiên của tháng 12, mùa đông đã hoàn toàn rụng xuống phủ kín cả cái thị trấn bé nhỏ xinh đẹp này. Người ta bảo tháng 12 là khởi đầu của những điều tốt đẹp. Bởi từ giây phút đó người ta có thể nói với nhau rằng mùa Giáng Sinh thật sự đã về. Tôi lanh lẹ chui ra khỏi chăn, nhón hai chân trên mặt sàn cứng nhắc và lạnh lẽo để cảm nhận cái nhói buốt rần rật chạy thẳng vào tim. Bằng một thao tác đột ngột nhất tôi mở tung cửa sổ cho cái lạnh đổ òa vào mặt, tê cóng. Mùi café quyện với mùi trà gừng, thêm cả mùi bánh bích quy hẳn là nóng hổi vừa ra lò xộc thẳng vào mũi tôi khiến cho cái dạ dày vốn lười nhác cũng phải réo sôi ùng ục.

 

Tôi rón rén bước chân trần xuống lầu. Bố nhíu mày nhìn tôi không hài lòng. Nhấp một ngụm trà xong bố mới thủng thẳng nói: “Con nên dậy sớm phụ dì làm bữa sáng, nếu không chẳng mấy chốc con sẽ thành con mèo ú ù ù cạc cạc mất thôi”. Tôi gật đầu với bố rồi liếc mắt về phía dì, dì mỉm cười nhìn tôi dịu dàng. Cuộc giao tiếp của chúng tôi thường chỉ có vậy. Trước mặt dì tôi giống như người bị bất lực về ngôn ngữ.

 

Dì không phải là mẹ tôi, tất nhiên. Trước đây tôi và bố sống với mẹ ở thành phố, trong một ngôi nhà cổ hai tầng được bao bọc bởi những cây dây leo đủ loại. Mẹ tôi là một hướng dẫn viên du lịch, những chuyến đi của mẹ kéo dài triền miên. Đã có lúc tôi từng ước được như mẹ, coi cuộc đời là những chuyến đi bất tận. Nhưng từ ba năm trước, khi tôi mười ba tuổi, tôi đã thôi không còn thần tượng mẹ nữa.

 

Một buổi sáng như mọi bận mẹ xách theo valy hành lý ra khỏi nhà. Nhưng mẹ không đến và hôn chào tạm biệt tôi. Bà chỉ lặng lẽ nhìn tôi rồi mỉm cười. Đáng lẽ ngay lúc ấy tôi phải biết đó là lời vĩnh biệt ngọt ngào thay cho ngàn lời yêu thương mẹ không bao giờ còn có thể dành cho tôi được nữa. Nếu thế thay vì đứng một chỗ chờ đợi tôi sẽ chạy đến ôm mẹ thật chặt, nói với mẹ rằng: “Mẹ hãy sống thật hạnh phúc nhé. Con yêu mẹ rất nhiều”. Nhưng tôi đã để mẹ ra đi, lặng lẽ và bất lực, đến những miền rong ruổi khác không còn bố và tôi.

 

Tôi không trách mẹ, cũng không giận mẹ. Mà tôi yêu mẹ. Nếu đã là một tình yêu vô điều kiện thì dù ai đó có còn ở bên ta hay không cũng không làm tình yêu của ta dành cho họ vơi bớt đi một milimet nào. Tôi đã học được cách yêu thương người khác như vậy, từ mẹ.

 

Sau khi mẹ đi, bố và tôi cũng chuyển đến ngôi nhà gỗ nằm ở lưng chừng đồi cô đơn giữa một thị trấn nhỏ được bao phủ bằng một màu xanh bất tận, xa thành phố ồn ã và ảm đạm. Ở đây mọi thứ cho người ta cảm giác đầy ứ, từ cỏ cây, hoa lá, chim muông, đến cả nắng, gió và bầu trời cũng thật nhiều và thật hào phóng. Cuộc sống nơi này êm đềm, bình yên và quá đỗi tươi đẹp. Tôi thấy tâm hồn mình cũng trở nên bao la và tự do hơn. Có lẽ đó cũng là một phần khiến tôi dễ dàng chấp nhận dì bước vào cuộc sống của bố con tôi một cách bình thản. Bởi dì đã yêu bố như mẹ, nên tôi cũng học cách yêu dì như mẹ.

 

***

 

Tôi đi học sớm hơn mười lăm phút so với ngày thường. Chẳng biết tại sao nhưng tôi có linh cảm hôm nay sẽ là một ngày đặc biệt. Không khí lạnh và ẩm ướt, hơi sương sộc vào cả trong mũi nhưng bầu trời thì không hề u ám. Da trời mỏng manh và xanh trong, cao diệu vợi. Tôi đã nhìn bầu trời ấy cả triệu lần rồi nhưng chưa bao giờ trong tôi cảm xúc có một lần trùng lặp. Lúc nào tôi cũng khám phá nó như lần đầu tiên để lọt thế giới vào trong đáy mắt, trong veo kì lạ. Mỗi lần như thế tôi luôn tự hỏi Thiên Đường nằm ở đâu phía sau bầu trời vô định ấy? Trong tuổi thơ của mỗi đứa trẻ luôn luôn có một Thiên Đường, để mơ ước, để khát vọng, để vươn tới. Rồi ai cũng sẽ đến được nơi ấy, chỉ là sớm hay muộn mà thôi!

 

Ở lớp tôi chọn chỗ ngồi cạnh cửa sổ, để không lãng phí một giây phút rảnh rỗi nào được ngắm bầu trời tự do ngoài kia. Mà thực ra là tôi cũng chẳng cần cạnh tranh để có được chỗ ngồi lý tưởng ấy. Vì tôi độc chiếm một mình một bàn ở cuối lớp, để nhường những chỗ ngồi “lý tưởng” hơn phía trên cho những đứa con trai phá phách và những cô nàng hay trò chuyện. Bạn bè bảo dù tôi có ngồi ở đâu thì tôi cũng là một tiểu vũ trụ riêng biệt chẳng trộn lẫn được vào đâu.

 

Trước khi cô giáo bộ môn vào dạy, cô chủ nhiệm đột ngột bước vào lớp, theo sau cô là một cậu học sinh cao dong dỏng với mái tóc loăn xoăn đen nhánh. Tôi lơ đãng nghe tiếng nhốn nháo của đám bạn trong lớp, mắt mơ màng nhìn ra ngoài cửa sổ. Xa xa những ngọn cây thông nhọn hoắt như những mũi lê đâm thẳng lên bầu trời, đau nhói.

 

Một tiếng nói trầm ấm vang lên bên tai lôi tôi trở về thực tại.

 

“Cậu có lạnh lắm không?”

 

Tôi quay phắt lại nhìn. Đôi mắt đen sâu thẳm thẳm, mênh mang như ôm ấp cả vũ trụ dịu hiền vô tận, và trong veo như bầu trời đang rọi thẳng vào tôi.

 

“Cậu có lạnh lắm không? Tớ cho cậu mượn áo nhé!”

 

Tiếng nói ấy lại vang lên, đôi mắt giờ lấp lánh ánh cười như vạt nắng nhảy nhót trên gương mặt cậu ấy.

 

“Không tớ không lạnh. Cám ơn”.

 

“Thân thể cậu đâu có biết nói dối. Nó đang run lên kia kìa”.

 

Tôi nhìn lại mình, đúng là tôi đang run thật. Nhưng chắc chắn tôi run không phải vì lạnh. “Mắt đen” cởi áo khoác ngoài đưa cho tôi:

 

“Khoác vào đi không tối về cậu sẽ bị cảm đấy”.

 

“Trông cậu cũng chẳng ấm áp hơn tớ bao nhiêu đâu”

 

Tôi nói vậy nhưng cũng lại đón lấy chiếc áo của cậu ấy. Có lẽ thêm một chiếc áo nữa có thể giúp tôi che giấu bớt sự “run rẩy” đang ngày càng tăng lên vì… bối rối.

 

“Thực lòng mà nói thì đúng là tớ cũng đang lạnh chết được đây”.

 

Tôi bật cười vì sự nhiệt tình thái quá của cậu ấy.

 

“Cậu tên gì?”

 

“Đông. Giáng Đông”.

 

“Tên hay nhỉ, kiểu như chỉ cần gọi tên cậu là mùa đông đến ngay lập tức ấy. Ai đặt cho cậu cái tên hay như thế?”

 

“Cha tớ”.

 

“Cha à? Sao lại gọi là Cha? Sao Cha lại đặt tên cho cậu như thế, phải có một ý nghĩa gì chứ?” …

 

Tôi nghĩ mình đã moi được đủ thông tin về Đông và cái tên có hẳn cả “điển tích điển cố” của cậu ấy chỉ sau buổi học đầu tiên. Đông sống với Cha. Cha của cậu ấy là “linh mục”. Điều đó cũng có nghĩa cậu ấy là trẻ mồ côi. Vào đêm giáng sinh, sau khi làm lễ ở nhà thờ về, nghe thấy tiếng khóc phát ra từ chiếc nôi mà Cha đã cố tình đặt bên cạnh khóm dâm bụt trước cửa nhà, chỉ cần như thế Cha cũng hiểu chuyện gì xảy ra. Đã quá nhiều đứa trẻ đến với Cha theo cái cách đơn giản và tàn nhẫn như vậy. Trong tu viện của dòng Cha, có cả một ngôi nhà nuôi dưỡng những đứa trẻ bị bỏ rơi như thế. Đáng lẽ Đông cũng được đưa vào đó nhưng thể chất cậu vốn yếu ớt từ nhỏ nên được Cha giữ lại bên mình, tự tay chăm sóc và nuôi dưỡng. Cha đặt tên cho cậu là Giáng Đông, để nhớ về cái đêm mùa đông buông xuống lạnh lẽo nhất, một đứa trẻ đã đến thế gian này, ngay trước giờ “Giáng Sinh”.

 

Cha được cắt cử về làm quản xứ ở nhà thờ thị trấn nên Đông cũng chuyển trường về đây.

 

“Vậy là tất cả những học sinh chuyển trường đều hội tụ trong lớp này cả” – tôi nói. Đông cười. Tôi không biết cách xoa dịu những nỗi buồn của người khác. Tôi chỉ cố tìm cách làm họ quên đi điều đó bằng việc lảng sang chuyện khác với một thái độ thản nhiên đến vô tâm vô tội. Và vì tôi tin rằng Đông chắc chắn không hề cảm thấy buồn hay xấu hổ về gia cảnh “đáng thương” của cậu ấy.

 

Tiếng chuông báo hiệu tan học vang lên. Đông đột ngột quay lại nói với vẻ thảng thốt:

 

“Tớ vẫn còn chưa biết tên cậu”.

 

Đó có được coi là một câu hỏi không nhỉ? Tôi cho là có!

 

“Nguyễn, tên của tớ là Nguyễn”.

 

“Gì Nguyễn?”

 

“Nguyễn Nguyễn”.

 

“?”

 

“À, họ của tớ là Nguyễn. Bố tớ đương nhiên rất tự hào với dòng họ danh giá của ông nên lấy tên Nguyễn Nguyễn đặt cho tớ. Để chỉ cần nghe tên thôi mọi người cũng đã biết nguồn gốc của tớ. Kỳ cục nhỉ?”

 

2.                 Mùa đông có Giáng Sinh.

 

Tôi đóng vai người chủ nhà dẫn Đông đi tham quan khắp mọi ngõ ngách trong thị trấn. Cậu ấy cứ háo hức như một đứa trẻ lần đầu tiên được khám phá thế giới. Đôi khi tôi thấy ghen tị với Đông.

 

“Tại sao đôi mắt cậu lúc nào cũng được nhìn những thứ xinh đẹp?”

 

“Ơ, thì tớ chỉ thấy những thứ cậu chỉ cho tớ thôi mà!”

 

“Vậy tớ mới nói. Những thứ bình thường nhất trong mắt cậu cũng trở nên thật đẹp. Còn những thứ đẹp nhất trong mắt tớ đều trở nên thật bình thường”

 

“Có lẽ tại vì nhìn đâu tớ cũng thấy Chúa ở đó”.

 

“Có bao gồm cả tớ không?” – Tôi chỉ hỏi đùa.

 

“Tất nhiên rồi” – Đông lại trả lời rất thành thật.

 

“Có thật à? Nhưng sao tớ không thấy nhỉ?”

 

“Cậu phải mở tâm hồn mình ra. Khép lại đôi mắt của thể xác, mở đôi mắt của tâm hồn, để tình yêu của Chúa bước vào trong tim cậu… Giang tay ra cậu có cả thế giới”.

 

Tôi chưa bao giờ thấy “Chúa” theo cái cách mà Đông nói. Có lẽ Chúa là một ý niệm gì đó quá siêu hình còn tôi lại quá thực tế. Đông không bao giờ hiểu được điều ấy. Cậu luôn cho rằng chỉ cần mở lòng bất kì ai cũng có thể gần Chúa. Thì tôi chấp nhận, có sao đâu, chỉ cần được nhìn thấy ánh mắt lấp lánh và nụ cười ấm áp của cậu ấy mỗi lần nhắc đến “Chúa của cậu” thì bất cứ ý niệm siêu hình, kỳ cục hay vô lý nào tôi cũng có thể nuốt trôi được.

 

Đông dẫn tôi đi tham quan nhà thờ nằm trên đỉnh đồi. “Dưới chân đồi cậu là chủ còn trên đỉnh đồi tớ là chủ”, Đông nói rồi nháy mắt tinh nghịch. Tôi tự hỏi có bao giờ đôi mắt của cậu biết “ngừng” cười không hả Đông?

 

Nhà thờ cách chỗ tôi ở không xa, tôi cũng đã nhiều lần đứng dưới chân đồi ngước nhìn lên ngọn tháp chữ thập sừng sững trên đỉnh đồi chơi vơi như mũi tên lao thẳng lên bầu trời. Mỗi lần như thế tôi luôn tưởng tượng ra những hình ảnh trừng phạt rùng rợn mà tôi đã đọc được trong những cuốn tiểu thuyết viết về nhà thờ thời trung cổ. Chính từ đó tôi bắt đầu có ác cảm với nhà thờ và những gì liên quan đến nó. Đông đã chỉ cho tôi thấy một thế giới hoàn toàn khác những gì mà tôi tưởng tượng. Ít ra thì nhà thờ cũng không hề lạnh lẽo, tối tăm như những nhà tù trung cổ và ở đó ngoài những hình phạt để trả giá cho tội lỗi thì cũng còn có sự tha thứ, và hơn hết thảy đó còn là tình yêu.

 

Cha của Đông cũng giống như cậu ấy, rất thân thiện và có nụ cười ấm áp. Cha rất yêu thiên nhiên, cây cỏ. Trong vườn của Cha trồng đủ các loại hoa, thậm chí xung quanh nhà cũng được bao bọc bằng những cây dây leo đủ loại. Nó gợi cho tôi nhớ đến căn nhà cũ ở thành phố của chúng tôi. Đã lâu lắm rồi hình ảnh mẹ trước khi ra đi đột ngột hiện lên trong tâm trí tôi một cách rõ rệt như chưa bao giờ xảy ra. Không biết mẹ giờ này thế nào? Có hạnh phúc không? Có còn nhớ đến tôi không? Khi nghĩ về điều ấy bất giác tôi liếc sang gương mặt của Đông. Cậu ấy đang cắt những bông hoa trong vườn để cắm vào lọ. Vừa làm vừa lẩm nhẩm hát một bài Thánh ca vui vẻ: “Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời, Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa…” Đông đang hiển hiện trước mặt tôi như thế, thật đến từng chút một. Nhưng liệu sau một cái chớp mắt cậu ấy có biến mất khỏi thế giới của tôi như mẹ hay không?

 

Hóa ra sự ra đi của mẹ không phải không có tác động gì đến tôi, mà ở sâu trong tâm khảm, sự sợ hãi, ngờ vực đã bắt đầu xâm chiếm tâm hồn tôi.

 

***

 

Tôi đã quên mùa đông có Giáng Sinh. Đông đến và kéo tôi ra khỏi đống truyện tranh la liệt khắp phòng để hòa mình vào không khí Giáng Sinh rạo rực khắp thị trấn. Không phải tất cả mọi người trong cái thị trấn bé nhỏ này đều theo đạo, nhưng người ta nói đúng, Giáng Sinh không phải là sở hữu riêng của người Thiên Chúa Giáo. Nó đã vượt qua ranh giới tầm thường của sự khác biệt, dù là tôn giáo, dân tộc hay màu da, mọi người đều có quyền vui niềm vui đón Giáng Sinh.

 

Chúng tôi cùng Cha trang trí nhà thờ bằng những đồ vật rất đặc trưng của Giáng Sinh, nào là cây thông Noel, hang đá bò lừa, Ông già tuyết mặc bộ đồ đỏ… Tôi thấy lạ là trên mỗi đỉnh tháp nhà thờ, cây thông hay hang đá đều có treo một ngôi sao lấp lánh, bên trong còn lắp một ngọn đèn điện để đêm đến có thể phát sáng. Cái thứ ánh sáng tỏa ra từ ngôi sao ấy rất huyền diệu, vừa như thật lại vừa như ảo, vừa rất gần lại vừa rất xa.

 

Đông bảo đó là biểu tượng “ngôi sao phương Đông”. Một điển tích trong Kinh Thánh. Vào đêm Chúa giáng sinh, trên bầu trời liền xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Có ba vua từ phương Đông xa xôi đã đi theo ánh sáng của ngôi sao ấy và tìm được nơi Chúa sinh ra. Từ đó “ngôi sao phương Đông” trở thành ngôi sao dẫn đường, là biểu tượng cho phép lạ của Thiên Chúa ban cho loài người.

 

“Thực ra trong đời mỗi người cũng sẽ có một “ngôi sao phương Đông”. Nó sẽ dẫn đường cho chúng ta tìm thấy những điều kỳ diệu. Chỉ là khi nào nó sẽ xuất hiện thì không ai biết trước được. Và lúc nó xuất hiện chúng ta có nhận ra ánh sáng của nó và tin tưởng bước theo hay không mà thôi” – Đông đã nói như vậy khi chúng tôi ngồi bên cạnh hang đá, dưới ánh sáng mờ ảo phát ra từ những ngôi sao trên đỉnh tháp.

 

“Đông à ngôi sao phương Đông của tớ đã xuất hiện hay chưa? Nếu chưa thì bao giờ nó mới xuất hiện?”

 

Chưa bao giờ tôi cảm nhận Giáng Sinh là một ngày lễ, thậm chí là cả năm nay. Đêm Giáng Sinh tôi đã hứa với Đông sẽ đến nhà thờ dự lễ. Nhưng Đông có việc, cậu ấy là người Giúp lễ, phải ở bên cạnh Linh mục chủ tế trong thánh lễ, để phụ giúp những công việc cần thiết, cậu ấy không thể ở cùng tôi. Giáng Sinh với tôi là một ngày cô đơn. Khi người ta có đôi có cặp, có gia đình đi cùng nhau đến nhà thờ, tôi thấy mình lạc loài trong thế giới ấy. Ngồi lọt thỏm giữa những con chiên đang lầm rầm cầu nguyện, tôi nhìn về phía Đông. Thấy đôi mắt cậu ấy hướng lên bức tượng Thánh giá đầy thành kính và tin tưởng. Giây phút ấy tôi nhận ra Đông với tôi là hai thế giới hoàn toàn khác biệt, vô cùng xa cách. “Đông à có phải cậu đã tìm thấy ngôi sao phương Đông của cậu còn tớ thì vẫn cứ lạc lối trong thế giới cô đơn của riêng tớ?”

 

Sau Thánh lễ tôi chờ Đông ở cửa nhà thờ để tặng cậu ấy món quà mà tôi đã chuẩn bị, cho ngày sinh nhật của cậu ấy. Đông chưa bao giờ nhớ sinh nhật của mình. Vì sinh nhật của cậu ấy cũng là sinh nhật của Chúa. Trong mắt cậu ấy Chúa là quan trọng nhất. Khi nhận món quà từ tay tôi Đông gãi đầu gãi tai vô cùng bối rối. “Quả nhiên đây là lần đầu tiên cậu nhận quà sinh nhật. Còn cái gì “lần đầu tiên” của cậu nữa không hả Đông?”

 

3.                 Thiên Đường không dành cho những người đang yêu.

 

Bước vào lớp mười hai, lịch học của chúng tôi dày đặc, một buổi học ở trường, một buổi ở lớp học thêm, ngày nào cũng vậy. Nhưng thỉnh thoảng tôi lại thấy Đông nghỉ học. Có lúc một buổi, có lúc liền mấy buổi. Lần nào tôi hỏi, cậu ấy cũng bảo: “Đến một lúc nào đó cậu sẽ hiểu”. Cái cách trả lời càng khiến người ta tò mò hơn bao giờ hết. Một lúc nào đó là lúc nào mới được chứ? Tôi phát cáu. Nhưng nhận ra là mình vô lý. Ai cũng có một hoặc nhiều bí mật, và có những bí mật chắc chỉ có Chúa mới biết. Tôi lấy gì để so sánh với Chúa của cậu ấy kia chứ?

 

Lúc rảnh rỗi tôi vẫn thường lên nhà thờ… ngắm cảnh. Đông hay chọc ghẹo tôi:

 

“Hôm nay rảnh rỗi quá nhỉ? Vườn hoa nhà tớ nhớ cậu đến héo hon kia kìa”.

 

“Tại cậu cứ dụi mũi vào tận mặt chúng nó làm chúng nó xấu hổ thì có”.

 

Đông cười không thèm đôi co với tôi. Cậu kéo tay tôi nằm ngửa xuống bãi cỏ, để mắt mình đối diện với bầu trời.

 

“Tớ luôn nghĩ Thiên Đường ở đâu đó phía sau bầu trời kia thôi nhưng chính xác ở chỗ nào thì tớ không biết. Cậu có nghĩ vậy không?”

 

“Không Cha tớ bảo Thiên Đường chẳng ở một chỗ nào cố định cả. Khắp cả vũ trụ này đều là Thiên Đường. Nơi nào có Chúa nơi đó là Thiên Đường. Mà Chúa thì ở khắp mọi nơi”.

 

“Thế ở nơi đó như thế nào?”

 

“Ở nơi đó mọi người sống rất hạnh phúc vì luôn luôn được ở gần Chúa, được nhìn thấy Chúa. Họ là những vị Thánh, những Thiên thần. Tâm hồn họ trong sạch và thánh thiện. Họ không có thù hận, không có dục vọng…”

 

“Thế họ có tình yêu không?”

 

“Có, họ yêu Chúa”.

 

“Vậy người yêu của họ ở trần thế thì sao?”

 

“Họ quên hết rồi, quên tất cả. Chỉ có Chúa thôi”.

 

“Thế thì cậu chắc chắn có một chỗ trên đó rồi. Cậu lúc nào cũng chỉ có Chúa với Chúa mà thôi”.

 

Đông cười buồn… Là “buồn” thật sao? Có phải tôi nhìn nhầm? Làm sao như thế được, ngay cả những lúc đáng lẽ phải buồn, tôi cũng thấy cậu cười thật tươi kia mà? Đông không cho tôi câu trả lời. Chỉ trong một tích tắc tôi lại thấy lại nụ cười ấm áp, sáng trong trên gương mặt cậu.

 

“Cậu có muốn tớ giữ cho cậu một chỗ trên đó không?”

 

“Không, cám ơn! Tớ sợ Thiên Đường của cậu rồi”.

 

“Tại sao vậy?”

 

“Vì tớ không yêu Chúa…” – Tôi chỉ nói một nửa còn một nửa, có lẽ mãi mãi cậu chẳng bao giờ biết: “Vì tớ yêu cậu, mà Thiên Đường thì chẳng có chỗ cho những người đang yêu”.

 

“Thế ước mơ của cậu là gì?”

 

“Ước mơ của tớ à, là sau này nếu có một lúc nào tớ muốn tự tử, sẽ có người nắm tay tớ mà bảo rằng: “Tớ sẽ đi cùng cậu” thay vì nói: “Ừ cậu cứ đi đi và đừng bao giờ quay lại nữa nhé”.

 

“Ước mơ của cậu cao cả nhỉ?”

 

Thực ra chính tôi cũng không biết ước mơ của mình là gì. Ngôi sao phương Đông của tôi ơi mau xuất hiện đi, trời đã tối lắm rồi!

 

***

 

Tôi nhận ra là Đông không hề nộp hồ sơ thi đại học. Tôi hỏi thẳng cậu ấy. Đông bối rối một lúc, rồi trả lời: “Thực ra mọi thứ đã được chuẩn bị sẵn cho tớ rồi. Tớ sẽ không thi đại học. Như thế nào thì cậu cũng biết rồi đấy. Con đường tớ đi đã được lập trình từng bước một”. Đã đoán trước được câu trả lời sao lòng tôi vẫn hụt hẫng, trái tim tôi vẫn nhói đau. Cậu ấy sẽ trở thành linh mục. Cậu ấy là của Chúa, cậu ấy phải thuộc về Chúa, cả tâm hồn lẫn thể xác. Tôi mãi mãi chỉ là một hòn đá tảng vô tình rơi trên con đường cậu ấy đi mà thôi.

 

Mùa hè đến cũng là lúc Đông đi. Cậu ấy sang Rome. Nơi mà tôi chưa bao giờ biết đến và có lẽ sẽ chẳng bao giờ biết đến. Nơi ấy không thuộc về tôi. Tôi có thể giữ Đông ở lại hay không? Có lẽ không thể. Cậu ấy cũng giống như mùa đông, đến rồi đi theo một lộ trình đã được định sẵn. Còn tôi, trên hành trình của cậu ấy có bao giờ có tôi hay không?

 

Tôi ra sân bay tiễn cậu ấy đi trong vai trò của một người bạn. Lần đầu tiên Đông ôm tôi vào lòng, một cái ôm xiết chặt. Trời nắng tháng sáu mà toàn thân tôi lạnh toát trong vòng tay của cậu ấy.

 

“Dù không có tớ ở bên cạnh nữa cậu cũng phải sống tốt nhé. Đừng bao giờ có ý định tự tự. Sự sống rất quý giá. Tớ nhất định sẽ giữ cho cậu một chỗ trên Thiên Đường”.

 

Những câu nói của cậu ấy chẳng ăn nhập gì với nhau cả. Nhưng tôi đã không còn để ý đến điều đó nữa.

 

“Tớ yêu cậu”.

 

Tớ yêu cậu vô điều kiện. Vậy nên dù cậu có còn ở bên tớ hay không cũng không làm tình yêu của tớ dành cho cậu vơi bớt đi một milimet nào!

 

Tôi ngước nhìn chiếc máy bay đưa Đông khuất sau bầu trời. Cậu ấy đã đến nơi thuộc về cậu ấy. Nơi không còn tôi. Tạm biệt. Hãy luôn bình an Đông nhé!

 

***

 

Tôi trở về cuộc sống như trước khi Đông đến, vùi đầu vào đống truyện tranh và sách vở. Cuộc sống của một sinh viên đại học nhàn nhã hơn tôi tưởng rất nhiều. Sống một mình ở một thành phố xa lạ, không người thân bên cạnh, tôi vẫn mãi là một tiểu hành tinh cô độc. Nhưng tôi thích sự cô độc đó. Không liên lạc, không tin tức Đông dường như biến mất khỏi thế giới của tôi. Nhưng chỉ là thế giới bên ngoài mà thôi, còn trong trái tim tôi cậu vẫn như thế, nguyên vẹn và sống động.

 

Trong một lần hiếm hoi trở về nhà, tôi nghe bố nói Cha có đến tìm tôi, ước chừng đến một tháng rồi. Cha chưa bao giờ làm thế nên tôi nghĩ chắc là Cha có việc quan trọng. Tôi vội vã lên gặp Cha. Trước đây sợi dây duy nhất nối tôi với Cha là Đông. Còn bây giờ, không còn Đông nữa, tôi không biết phải đối diện với Cha như thế nào?

 

“Cha đi làm lễ ở thị trấn bên cạnh chưa về. Lát chị hãy quay lại nhé chắc Cha cũng sắp về rồi” – Một cậu bé chạc mười tuổi có đôi mắt trong veo nói với tôi như vậy. Cậu bé giống Đông quá, từ đôi mắt đến nụ cười, sáng trong và ấm áp. Có lẽ trước khi đến trần gian họ đều là những Thiên thần ở bên cạnh Chúa. Họ đến từ đâu rồi cũng sẽ trở về nơi đó.

 

Tôi đi lang thang xung quanh nhà thờ, tìm lại từng kỷ niệm cũ trong mọi ngóc ngách tôi đã bỏ quên. Hóa ra kỷ niệm cũng chẳng khó quên như tôi vẫn tưởng. Vì hình như tôi chẳng còn nhớ được bao nhiêu.

 

***

 

Ngày đầu tiên của mùa đông, tôi ngồi trong phòng mở toang cánh cửa nhìn ra những cây thông như lưỡi lê đâm thẳng lên bầu trời. Cái lạnh khiến toàn thân tôi run rẩy. Những lời Cha nói cứ văng vẳng bên tai tôi: “Đông bị bệnh tim từ nhỏ. Dù cuộc phẫu thuật hơn mười năm trước đã cứu sống nó nhưng nó luôn ý thức rất rõ rằng nó có thể về với Chúa bất cứ lúc nào. Vậy nên mỗi ngày nó đều sống như là ngày cuối cùng và luôn sẵn sàng cho sự ra đi. Cuộc sống của nó đã được lập trình sẵn như vậy. Mấy năm trước Cha đã gợi ý nó sang Rome học tập và chữa bệnh, nó không đồng ý. Nhưng từ khi con xuất hiện khiến lộ trình của nó bị chệch hướng. Nó nói gặp con là điều duy nhất không được định sẵn trong cuộc đời của nó. Đông sẽ phẫu thuật một lần nữa. Nó nói nếu nó sống, nghĩa là Chúa muốn ngôi sao phương Đông của nó sẽ dẫn lối cho nó trở về”.

 

Cha nói tôi có thể đi tìm cậu ấy nhưng tôi quyết định ở lại và chờ. Tôi tin rằng Đông sẽ trở về. Chắc chắn cậu ấy sẽ không chết, cậu ấy sẽ sống và trở về. Vì Thiên Đường đâu có chỗ cho những người đang yêu, phải thế không Đông?

 

Đêm nay một ngôi sao tỏa sáng rực rỡ trên bầu trời phương đông!

Nguyễn Khuyên